Q&A Thuế thu nhập cá nhân

05/01/2022

Câu hỏi 1: Hỏi về giảm trừ gia cảnh

Ngày 18/02/2021 nhân viên A có thực hiện thủ tục đăng ký Giảm trừ gia cảnh, thời điểm phát sinh giảm trừ là từ 05/2020. Mã số thuế người phụ thuộc đã được cơ quan thuế cấp thành công. Vậy nhân viên này có được tính giảm trừ gia cảnh từ tháng 05/2020 khi quyết toán thuế TNCN năm 2020 không?

Trả lời:

Theo quy định về việc đăng ký giảm trừ gia cảnh tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 có hướng dẫn:

"c.2.3) Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc. Riêng đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều này thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế, quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế đó"

Theo hướng dẫn nêu trên: Trường hợp của anh/chị tại ngày 18/02/2021 đã thực hiện thủ tục đăng ký giảm trừ gia cảnh thành công cho người phụ thuộc thì:

Nếu người phụ thuộc của anh /chị thuộc đối tượng theo quy định tại điểm d.4 là: anh ruột, chị ruột, e ruột, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột, cháu ruột, người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế 2020 vì thời điểm đăng ký đã quá hạn 31/12/2020.

Nếu người phụ thuộc là các đối tượng còn lại ngoài d.4, điểm d, khoản 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng.

 

Câu hỏi 2: Chi phí cách ly có được tính vào chi phí được trừ của Công ty không?

Do tình hình dịch Covid, trong năm 2020 Công ty ký hợp đồng lao động với chuyên gia nước ngoài có cam kết trong hợp đồng là chi trả chi phí cách ly tại khách sạn và chi phí điều trị (nếu có) khi vào Việt Nam làm việc nhưng chi phí thuê nhà hàng tháng người lao động tự chi trả. Xin hỏi chi phí cách ly có được tính vào chi phí được trừ của Công ty không?

Trả lời:

Về vấn đề này, Tổng cục Thuế đã có công văn số 5032/TCT-CS ngày 26/11/2020 hướng dẫn về chính sách thuế đối với chi phí cách ly phòng chống dịch Covid 19 của Chuyên gia nước ngoài.

Căn cứ tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp thì: Đối với chi phí cách ly tại khách sạn và chi phí điều trị cho chuyên gia nước ngoài mà doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động trong đó có ghi khoản chi về tiền nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động thì khoản chi phí trả cho cơ sở cách ly được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.

 

Câu hỏi 3: Quyết toán thuế TNCN cho nhân viên của công ty mới thành lập.

Công ty mới thành lập vào tháng 9/2020, do mới thành lập nên chưa trả lương cho nhân viên, vậy Công ty có phải làm quyết toán thuế TNCN không?

Trả lời:

Căn cứ điểm d.1 khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Vì vậy, Công ty của bạn nếu không phát sinh chi trả từ tiền lương và các khoản có tính chất tiền lương theo quy định của pháp luật thuế TNCN cho người lao động thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.

 

Câu hỏi 4: Người phụ thuộc để tính giảm trừ gia cảnh nếu quá 22 tuổi

Nếu người phụ thuộc quá 22 tuổi thì cơ quan thuế có tự động cắt giảm giảm trừ?

Trả lời:

Theo quy định hiện tại việc tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc và giảm trừ gia cảnh cho bản thân được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 9 Thông tư số 111/TT-BTC của Bộ Tài chính. Trong đó trường hợp con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng được tính là người phụ thuộc.

Như vậy, thời gian tính giảm trừ gia cảnh cho con từ 18 tuổi sẽ được xác định theo thông tin cụ thể tại hồ sơ đăng ký giảm trừ gia cảnh của người nộp thuế, không xác định theo số tuổi thực tế.

 

Câu hỏi 5: Quyết toán đối với người lao động theo thời vụ

Công ty chuyên về xây lắp điều hoà công trình. Công nhân chủ yếu làm theo thời vụ, nên có trường hợp công nhân làm cho 2 công ty. Cuối năm cả 2 công ty đều thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân, nhưng mức thu nhập cá nhân chưa vượt quá mức phải nộp thuế. Vậy cá nhân có phải tự đi quyết toán thuế TNCN không, hay công ty A và B vẫn tự quyết toán riêng?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của chính phủ quy định, thì:

  • Đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Do đó, công ty bạn có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập đã chi trả cho các công nhân đó. Đối với cá nhân có hai nguồn thu nhập trở lên thì không được ủy quyền quyết toán thuế.
  • Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo, thì trực tiếp khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân với cơ quan thuế. Do đó, trường hợp những người lao động đó trong công ty bạn có thu nhập hai nơi thì có trách nhiệm tổng hợp thu nhập trong năm và quyết toán thuế thu nhập cá nhân trực tiếp với cơ quan thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn. Trường hợp kỳ tính thuế năm 2020, cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống thì không phải khai quyết toán thuế và được miễn thuế TNCN đối với khoản thuế phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đồng trở xuống.

 

Câu hỏi 6: Cá nhân tự quyết toán thuế có cần in bản giấy không?

Tôi là cá nhân tự quyết toán thuế, tôi đã sử dụng ứng dụng trên website của Tổng cục Thuế để gửi quyết toán thuế trực tuyến. Xin hỏi tôi có cần phải in văn bản giấy để nộp ra chi cục thuế địa phương hay không?

Trả lời:

Ứng dụng này hỗ trợ người nộp thuế sử dụng các mẫu tờ khai theo quy định, khai đúng các chỉ tiêu trên tờ khai và tự động xác định nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế để tránh nhầm lẫn phải đi lại nhiêu lần. Tuy nhiên, do cá nhân chưa có chữ ký số nên sau khi khai trực tuyến bạn vẫn cần phải in ra để ký và gửi đến cơ quan thuế kèm theo các tài liệu, hồ sơ theo quy định. Việc gửi hồ sơ đến cơ quan thuế có thể gửi trực tiếp hoặc gửi đảm bảo qua đường bưu điện.

 

Câu hỏi 7: Thuế TNCN đối với sinh viên không ký hợp đồng

Công ty tôi có tuyển một số sinh viên làm việc không ký hợp đồng cho Công ty trong thời gian 4 tháng. Xin hỏi Công ty tôi có phải khấu trừ thuế TNCN khi chi trả cho những sinh viên này không?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm 1.i điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì:

“Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế.”

Căn cứ quy định nêu trên, Công ty tuyển sinh viên làm việc không ký hợp đồng trong thời gian 4 tháng, không ký hợp đồng lao động; khi Công ty trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân. Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế và cá nhân đã đăng ký thuế, có mã số thuế thì cá nhân làm cam kết và gửi cho Công ty để tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

 

Câu hỏi 8: Hướng dẫn về nộp thuế TNCN đối với cán bộ công nhân viên làm việc tại các dự án ở nước ngoài.

Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn về xác định thu nhập chịu thuế đối với CBCNV làm việc tại nước ngoài. Mặt khác cơ quan thuế địa phương yêu cầu Công ty tính thuế TNCN của CBCNV làm việc tại nước ngoài (cả cả trường hợp cư trú trên 183 ngày và có nguồn thu từ nước ngoài) như áp dụng đối với người Việt Nam ở Việt Nam và nộp chênh lệch về thuế nếu thuế ở VN cao hơn ở nước ngoài.

Vậy Công ty phải xử lý như thế nào đối với thuế thu nhập cá nhân của các cá nhân thuộc trường hợp này?

Trả lời:

Tại Điểm e.1, Điều 26, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

 “e.1) Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài đã tính và nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của nước ngoài thì được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài. Số thuế được trừ không vượt quá số thuế phải nộp tính theo biểu thuế của Việt Nam tính phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài. Tỷ lệ phân bổ được xác định bằng tỷ lệ giữa số thu nhập phát sinh tại nước ngoài và tổng thu nhập chịu thuế.

2. Khai thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh

a.2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài thực hiện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý.”

Theo hướng dẫn tại điểm b.2.1, khoản 3, Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân thì Hồ sơ cần có các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm:

“…Bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm, số thuế đã nộp ở nước ngoài (nếu có). Cá nhân cam kết chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin trên bản chụp đó. Trường hợp tổ chức trả thu nhập không cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân do tổ chức trả thu nhập đã chấm dứt hoạt động thì cơ quan thuế căn cứ cơ sở dữ liệu của ngành thuế để xem xét xử lý hồ sơ quyết toán thuế cho cá nhân mà không bắt buộc phải có chứng từ khấu trừ thuế.

Trường hợp, theo quy định của luật pháp nước ngoài, cơ quan thuế nước ngoài không cấp giấy xác nhận số thuế đã nộp, người nộp thuế có thể nộp bản chụp Giấy chứng nhận khấu trừ thuế (ghi rõ đã nộp thuế theo tờ khai thuế thu nhập nào) do cơ quan trả thu nhập cấp hoặc bản chụp chứng từ ngân hàng đối với số thuế đã nộp ở nước ngoài có xác nhận của người nộp thuế.”

Như vậy, cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh tại nước ngoài đã nộp thuế tại nước ngoài được trừ số thuế đã nộp tại nước ngoài (có chứng từ chứng minh) nhưng không vượt quá số thuế TNCN tính theo luật pháp Việt Nam cho khoản thu nhập nhận tại nước ngoài khi quyết toán thuế. Trường hợp đã nộp thuế thu nhập ở các nước có ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì thực hiện theo quy định của Hiệp định.