Đối tượng đăng ký thuế từ 01/7/2026 theo Thông tư 90/2026/TT-BTC - thêm 3 nhóm phải đăng ký, 2 trường hợp không phải đăng ký

Thông tư 90/2026/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, ban hành ngày 30/6/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Thông tư 86/2024/TT-BTC. Bên cạnh việc bổ sung 3 trường hợp mới phải đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế tại khoản 2 Điều 4 - đều gắn với thương mại điện tử, kinh tế số và thuế tối thiểu toàn cầu – Thông tư còn ghi nhận rõ 2 trường hợp không phải đăng ký thuế và đơn giản hóa thủ tục đăng ký người phụ thuộc khi thay đổi nơi làm việc.

1. Cá nhân không cư trú kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán

Theo điểm e khoản 2 Điều 4, cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán theo quy định tại Điều 42 Nghị định 252/2026/NĐ-CP phải thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.

Điểm mấu chốt là quy định này phân định nghĩa vụ theo mô hình nền tảng, chứ không áp dụng cho mọi cá nhân không cư trú:

  • Nền tảng không có đủ hai chức năng (đặt hàng trực tuyến + thanh toán) → không có chủ thể trung gian đứng ra khấu trừ, nộp thay → cá nhân không cư trú tự đăng ký thuế trực tiếp.
  • Nền tảng đủ hai chức năng → chủ quản nền tảng khấu trừ và nộp thay theo điểm h.3 khoản 2 Điều 4 (phạm vi bao gồm cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú) → cá nhân không thuộc trường hợp đăng ký trực tiếp tại điểm e.

Đây là nội dung mới. Thông tư 86/2024/TT-BTC mới quy định chung đối với nhà cung cấp nước ngoài và cá nhân nước ngoài không cư trú có hoạt động thương mại điện tử, chưa tách riêng nhóm cá nhân không cư trú theo từng mô hình nền tảng. Thông tư 90/2026/TT-BTC cũng đồng thời loại trừ nhóm này khỏi phạm vi "nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài" tại điểm g khoản 2 Điều 4, tránh chồng lấn đối tượng.

2. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác ở trong nước có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán

Theo điểm h.3 khoản 2 Điều 4, chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác ở trong nước có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán theo quy định tại Điều 43 Nghị định 252/2026/NĐ-CP khấu trừ và nộp thay thuế cho:

  • Nhà cung cấp nước ngoài;
  • Hộ kinh doanh;
  • Cá nhân kinh doanh (bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú).

Về mã số thuế: theo điểm e khoản 2 Điều 5, nhóm khấu trừ - nộp thay tại điểm h khoản 2 Điều 4 được cấp mã số thuế 10 chữ số gọi là "mã số thuế nộp thay", cấp riêng cho mỗi nhóm đối tượng được khấu trừ, nộp thay. Khi người nộp thuế thay đổi thông tin, tạm ngừng, chấm dứt hiệu lực hoặc khôi phục mã số thuế chính, cơ quan thuế tự cập nhật tương ứng cho mã số thuế nộp thay; người nộp thuế không phải nộp hồ sơ theo Chương II, Chương III đối với mã số thuế nộp thay này.

Lưu ý khi so sánh với quy định trước đây: nghĩa vụ khấu trừ, khai thay, nộp thay của sàn thương mại điện tử có chức năng thanh toán đã được đặt ra từ Nghị định 117/2025/NĐ-CP (hiệu lực 01/7/2025), nay được kế thừa và mở rộng tại Điều 43–44 Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Do đó, điểm mới của Thông tư 90/2026/TT-BTC là thủ tục đăng ký thuế và cấp mã số thuế nộp thay riêng cho chủ quản nền tảng, chứ không phải bản thân nghĩa vụ khấu trừ. Theo Thông tư 86/2024/TT-BTC, nhóm được cấp mã số thuế nộp thay chủ yếu là tổ chức khấu trừ cho nhà thầu nước ngoài, nhà cung cấp nước ngoài và bên hợp tác kinh doanh, chưa có chủ quản sàn.

3. Tổ chức kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu

Theo điểm o khoản 2 Điều 4, tổ chức kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu thuộc diện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.

Theo điểm i khoản 2 Điều 5, tổ chức này được cấp mã số thuế 10 chữ số để trực tiếp kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung. Nội dung đăng ký thuế thực hiện theo Điều 15 Nghị định 236/2025/NĐ-CP (quy định chi tiết Nghị quyết 107/2023/QH15 về thuế tối thiểu toàn cầu) và Thông tư 90/2026/TT-BTC.

Đây là quy định chưa từng được đề cập tại Thông tư 86/2024/TT-BTC.

4. Hai trường hợp KHÔNG phải đăng ký thuế

Song song với việc mở rộng đối tượng, Thông tư 90/2026/TT-BTC ghi nhận rõ hai trường hợp không phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế:

  1. Nhà cung cấp nước ngoài (điểm đ khoản 2 Điều 4): không phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế trong trường hợp toàn bộ doanh thu phát sinh tại Việt Nam đã được khấu trừ, nộp thay thuế.
  2. Cá nhân (khoản 3 Điều 34): trường hợp Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu thuế và tự động đồng bộ khi cấp mới, thay đổi thông tin số định danh cá nhân thì cá nhân không phải đăng ký thuế theo quy định tại điểm b.2, b.3 khoản 1 Điều 21 Thông tư này.

5. Không phải đăng ký lại người phụ thuộc khi thay đổi nơi làm việc

Một nội dung đáng lưu ý khác nằm ở thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế. Theo điểm đ khoản 4 Điều 23 Thông tư 90/2026/TT-BTC:

"Người nộp thuế chỉ phải đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh cho mỗi người phụ thuộc một lần trong suốt thời gian được tính giảm trừ gia cảnh. Trường hợp người nộp thuế thay đổi nơi làm việc thì người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân cho cơ quan chi trả thu nhập mới để được giảm trừ gia cảnh theo quy định."

Như vậy, từ 01/7/2026, người lao động chuyển nơi làm việc chỉ cần cung cấp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc cho cơ quan chi trả thu nhập mới, không phải đăng ký lại người phụ thuộc.

So với quy định cũ tại điểm i khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, người nộp thuế khi thay đổi nơi làm việc, nơi kinh doanh phải "thực hiện đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc như trường hợp đăng ký người phụ thuộc lần đầu". Đây là điểm cải cách thủ tục có tác động trực tiếp đến người lao động và bộ phận nhân sự – tiền lương của doanh nghiệp. Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc áp dụng từ 01/7/2026 thực hiện theo Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC.

>>> Tải Thông tư 90/2026/TT-BTC