Từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp xuất khẩu có thể phải áp dụng đồng thời hai loại tỷ giá khác nhau, tỷ giá hạch toán kế toán và tỷ giá tính thuế/hải quan. Thay đổi này phát sinh từ việc tỷ giá tính thuế không còn thực hiện theo pháp luật kế toán mà chuyển sang thực hiện theo pháp luật hải quan.
Theo hướng dẫn tại Tài khoản 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái, Phụ lục II Thông tư 99/2025/TT-BTC, khi ghi nhận doanh thu xuất khẩu, doanh nghiệp sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận: tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình (hoặc tỷ giá xấp xỉ, chênh lệch không vượt quá ±1%) của ngân hàng thương mại nơi thường xuyên có giao dịch. Tỷ giá này dùng để ghi nhận doanh thu, công nợ phải thu và hạch toán chênh lệch tỷ giá.
Theo khoản 4 Điều 14 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, tỷ giá tính thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan, không còn theo pháp luật kế toán như quy định cũ tại Thông tư 80/2021/TT-BTC (đã bị bãi bỏ bởi Thông tư 89/2026/TT-BTC, hiệu lực từ 01/7/2026).
Quy định hải quan được dẫn chiếu là khoản 5 Điều 21 Nghị định 08/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 9 Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP): tỷ giá tính thuế là tỷ giá ngoại tệ mua vào theo hình thức chuyển khoản của Hội sở chính Vietcombank tại thời điểm cuối ngày Thứ Năm tuần trước liền kề; nếu Thứ Năm là ngày lễ/ngày nghỉ thì lấy tỷ giá cuối ngày làm việc liền trước. Ngoại tệ chưa được công bố thì xác định theo tỷ giá tính chéo với các ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Hệ quả cần lưu ý: việc tồn tại song song hai tỷ giá có thể tạo chênh lệch giữa doanh thu trên sổ kế toán, trên hóa đơn xuất khẩu và trong khai báo hải quan. Hiện vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết của cơ quan nhà nước.
Theo Điều 8 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, hóa đơn cho hoạt động xuất khẩu gồm: hóa đơn GTGT (khai thuế theo phương pháp khấu trừ), hóa đơn bán hàng (phương pháp trực tiếp và tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan), hóa đơn thương mại điện tử (khi đáp ứng điều kiện chuyển dữ liệu điện tử đến cơ quan thuế) và phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.
Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, thời điểm lập hóa đơn xuất khẩu do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan.
>>> Tải Nghị định 252/2026/NĐ-CP
Bản tin này do Crowe Vietnam tổng hợp nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung, không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý, thuế hoặc kế toán cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Quy định pháp luật có thể thay đổi hoặc đã hết hiệu lực tại thời điểm Quý độc giả tiếp cận bản tin. Vui lòng đối chiếu văn bản pháp luật gốc và liên hệ chuyên viên tư vấn của Crowe Vietnam trước khi áp dụng vào tình huống thực tế. Crowe Vietnam không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất nào phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bản tin này mà không có tư vấn chuyên môn kèm theo.